topmargin="0" leftmargin="0" background="../images/Jpeg/content_backgound.jpg">
 
 
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
 
 

----ooOoo----

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

(DOCUMENTARY CREDITS)

----ooOoo----

 

Nội dung này được dựa theo bản “quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) do Phòng thương mại quốc tế (ICC-International Chamber of Commerce) tại Paris ban hành.  ICC đã ban hành văn bản đầu tiên năm 1933, sau đó được sửa đổi bổ sung qua các năm 1951, 1962, 1983 và văn bản mới nhất là UCP500, có giá trị hiệu lực kể từ 01/01/1994.  (UCP500 có khoản 50 điều+các tình huống xử lý).

 

1. Khái niệm

    Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận trong đó ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (Người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép một ngân hàng khác (Ngân hàng ở nước xuất khẩu) chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của người hưởng lợi với điều kiện người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản đã ghi trong thư tín dụng.

 

2. Các thành phần có liên quan

+ Người xin mở thư tín dụng:  Người mua, nhà nhập khẩu.

+ Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank): Là ngân hàng đại diện của nhà nhập khẩu, sẳn sàng cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu.

+ Người thụ hưởng:  Là người bán, nhà xuất khẩu hay một người bất kỳ nào đó do người thụ hưởng chỉ định.

+ Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising Bank):  Là Ngân hàng có nhiệm vụ thông báo thư tín dụng cho nhà xuất khẩu, thường là ngân hàng đại lý (hoặc chi nhánh) của ngân hàng mở thư tín dụng ở nước người hưởng lợi, cũng có thể là ngân hàng phục vụ cho nhà xuất khẩu.

   Ngoài ra, tùy theo các điều kiện thỏa thuận cụ thể giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này như sau:

+ Ngân hàng chiết khấu, hoặc một ngân hàng nào đó được chỉ định để chiết khấu.

+ Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank):  là Ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng đảm bảo trả tiền cho nhà xuất khẩu, trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán.  Ngân hàng xác nhận này còn được gọi là Ngân hàng bảo lãnh.

+ Ngân hàng thanh toán (Paying Bank):  Là một ngân hàng khác, được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình trả tiền cho bên xuất khẩu hay chiết khấu hối phiếu.

 

3. Mối quan hệ giữa 03 thành phần đối với một L/C  - (Letter Credit)

   a) Mối quan hệ giữa đơn vị nhập khẩu và ngân hàng mở L/C:  Mối quan hệ này được giải quyết trên cơ sở đơn xin mở L/C và sự đồng ý của ngân hàng mở L/C.  Đây là cơ sở để giải quyết tranh chấp (nếu có)

   b) Mối quan hệ giữa Ngân hàng mở L/C và đơn vị xuất khẩu:  Mối quan hệ này được giải quyết trên cơ sở nội dung L/C được viết ra bởi Ngân hàng.

   c) Mối quan hệ giữa đơn vị xuất khẩu và đơn vị nhập khẩu:  Mối quan hệ này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán khi chưa mở L/C.

Tóm lại:  Trong trường hợp có phát sinh tranh chấp:

Đơn xin mở L/C là cơ sở giải quyết giữa Nhà nhập khẩu và Ngân hàng mở thư tín dụng.

Thư tín dụng là cơ sở giải quyết giữa Nhà xuất khẩu và Ngân hàng mở thư tín dụng.

Hợp đồng là cơ sở giải quyết giữa Nhà xuất khẩu và Nhà nhập khẩu.

Chú ý: Hảy thận trọng khi xem xét một L/C, cần chú ý L/C đó có phù hợp với hợp đồng đã ký hay không? Nhớ rằng: Đối với nhà nhập khẩu, L/C còn chính là một phương tiện để "cải chính" lại một số điều bất lợi đối với họ trong hợp đồng đã ký.  Mặc dù, theo đúng nguyên tắc thì sự "cải chính" này phải được sự thỏa thuận của cả đôi bên.

 

4. Quá trình tiến hành phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ

  

 

(1)

 

NHÀ NHẬP KHẨU

 

NHÀ XUẤT KHẨU

(Người xin mở thư tín dụng)

     (5)

(Người thụ hưởng)

 

 

 

 

 

(2)

 

 

 

 

 

 

 

 

(10)

 

  

 

 

(11)                                               (4)

 

 

 

 

(6)

 

  

 

 

 

 

(9)

 

 

(3)

 

NGÂN HÀNG MỞ L/C

(7)

NGÂN HÀNG THÔNG BÁO

(NH phục vụ nhà nhập khẩu)

(8)

(NH đại lý của NH mở L/C)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  (1) Căn cứ nhu cầu và thoả thuận kinh tế đàm phán, ký kết hợp đồng.

  (2) Nhà nhập khẩu làm đơn gửi Ngân hàng xin mở L/C (theo mẫu Ngân hàng).

  (3) Ngân hàng mở L/C thảo thư tín dụng và chuyển đến ngân hàng thông báo.

  (4) Ngân hàng đại lý thông báo, ghi sổ và chuyển đến nhà xuất khẩu.

  (5) Nhận được L/C, nhà xuất khẩu tổ chức giao hàng theo thỏa thuận.

  (6) Giao hàng xong, lập Bộ chứng từ (theo L/C)+Hối phiếu và chuyển đến NH đại lý.

  (7) Ngân hàng đại lý chuyển Hối phiếu và Bộ chứng từ đến Ngân hàng mở L/C.

  (8) Kiểm tra sự hợp lệ của Bộ chứng từ (đúng L/C), ra lệnh NH đại lý thanh toán.

  (9) Ngân hàng đại lý báo Có, chấp nhận thanh toán cho Nhà xuất khẩu.

(10) Ngân hàng mở L/C báo Nợ, giao bộ chứng từ gốc cho Nhà Nhập khẩu nhận hàng.

(11) Nhà nhập khẩu thanh toán cho Ngân hàng mở L/C khoản nợ đến hạn.

 

 Chú ý:

    - Đơn xin mở L/C lập theo mẫu của Ngân hàng, khi viết đơn phải tôn trọng những điều kiện trên hợp đồng, tránh mâu thuẩn, trái ngược nhau.  Vì đây là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, đơn phải làm ít nhất là 02 bản.  Sau khi Ngân hàng ký, đóng dấu xác nhận sẽ gửi trả lại Nhà nhập khẩu 01 bản.

    - Khi chấp thuận mở L/C, ngân hàng sẽ trích tài khoản của Nhà nhập khẩu, mở tài khoản tín dụng và thực hiện ký quỹ.  Việc ký quỹ này nhầm đảm bảo khả năng thanh toán cho L/C được mở.  Tuỳ theo mức độ quan hệ giữa Nhà nhập khẩu và Ngân hàng, mà mức ký quỹ này sẽ thay đổi theo các tỷ lệ khác nhau.   Việc mở thư tín dụng qua nước xuất khẩu có thể bằng đường hàng không hoặc điện tín (Telex).

    - Tại Ngân hàng Thông báo (hoặc NH Đại lý của NH mở L/C):  Sau khi nhận được Bộ chứng từ và Hối phiếu thanh toán của Nhà Xuất khẩu, NH thông báo sẽ kiểm tra, nếu không phù hợp với L/C, thì gửi trả lại cho Nhà xuất khẩu để điều chỉnh lại cho phù hợp còn ngược lại, khi Bộ chứng từ đã hợp lệ sẽ chuyển cho Ngân hàng mở thư tín dụng, với thời gian là 02 (hai) ngày làm việc.

    - Tại Ngân hàng mở L/C:  Tiếp tục kiểm tra và đối chiếu Bộ chứng từ với L/C đã mở thông báo thanh toán (hoặc không thanh toán, trả lại Bộ chứng từ cho Nhà xuất khẩu khi bất hợp lệ). Thời gian kiểm tra là 07 (bảy) ngày làm việc.

    - Đối với Nhà nhập khẩu, khi nhận được Bộ chứng từ thanh toán từ Ngân hàng mở L/C, có quyền kiểm tra lại, nếu phát hiện sai sót trầm trọng và bất lợi về phía mình trong thủ tục nhận hàng, có quyền đề nghị với Ngân hàng mở L/C, từ chối trả tiền.

 

5. Một số chú ý về L/C

Thông thường trong thư tín dụng có các nội dung chủ yếu sau:

    +  Tên và địa chỉ ngân hàng mở thư tín dụng

    +  Số hiệu L/C: dùng để ghi vào các chứng từ thanh toán, cơ sở trao đổi thư từ, điện tín,… khi thực hiện hợp đồng.

    +  Địa điểm và ngày mở L/C:  Địa điểm là nơi mà ngân hàng cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu (có ý nghĩa quan trọng là nơi lựa chọn nguồn luật để giải quyết tranh chấp xảy ra).  Ngày mở tức ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của ngân hàng mở L/C. Cũng là ngày chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của nhà nhập khẩu.  Cũng là ngày bắt đầu thời hạn hiệu lực của tín dụng thư.

    +  Loại thư tín dụng:  Có nhiều loại nên cần phải ghi rõ là loại L/C gì?  Theo UCP500, nếu không ghi rõ, thì L/C dạng này được xem là loại L/C không thể hủy ngang.

    +  Thời hạn hiệu lực của L/C, địa điểm hết hiệu lực của L/C:  Thời hạn hiệu lực được tính từ ngày mở L/C cho đến ngày hết hiệu lực thanh toán L/C.  Đây cũng là thời hạn cuối cùng cho việc hoàn thành và xuất trình Bộ chứng từ để được thanh toán.  Về địa điểm hết hiệu lực, cả 02 bên mua, bán đều muốn địa điểm hết hiệu lực tại nước mình, để họ có thể chủ động về thời gian trả tiền hay nhận tiền, giảm được chi phí chuyển tiền.

    + Nếu số lượng hàng hóa, hoặc số lượng tiền không thể ghi bằng số tuyệt đối do hàng hóa khó cân, đong, đo, đếm chính xác các L/C thường dùng từ “about” (khoảng chừng, xấp xỉ).  Tuy nhiên, theo UCP500, “about” này cho xê dịch không quá số cho phép 10% so với số tiền ghi trên L/C.

    +  Nếu L/C không ghi ngày xuất trình Bộ chứng từ thì theo điều 43a của UCP500, quy định trong vòng 21 ngày kể từ ngày giao hàng, nhưng phải trong thời hạn hiệu lực của L/C.

    +  Thời hạn trả tiền của L/C:  Trong trường hợp trả ngay, thì việc trả tiền phải được thực hiện ngay sau khi xuất trình hối phiếu trả ngay.

    +  Thời hạn giao hàng:  Nếu L/C ghi “on” (vào ngày), hay “about” (vào khoảng) hoặc các từ ngữ tương đương thì cho phép giao hàng trước, sau 05 ngày so với ngày giao hàng.  Ví dụ:  Date of shipment on (about) 06/07/2003, thì Nhà xuất khẩu có thể giao hàng từ 01/07/2003 đến 10/07/2003, kể cả ngày 06/07/2003 và 10/07/2003.

 

     Ngoài ra, còn có các từ như “to”, “from” (Ví dụ: Date of shipment to 06/07/2003, Date of shipment from 06/07/2003 là tính luôn ngày 06/07/2003) và từ “after”(Ví dụ: Date of shipment after 06/07/2003, là không tính ngày 06/07/2003).

 

6. Các loại L/C

ÿL/C có thể hủy ngang (Revocable letter of credit): Là loại mà Nhà nhập khẩu có thể hủy bỏ bất cứ lúc nào, không cần thông báo cho Nhà xuất khẩu và các bên có liên quan.  Thực chất, loại L/C này chỉ là lời hứa trả tiền chứ không là cam kết trả tiền.

ÿL/C không thể hủy ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại mà sau khi đã mở trong thời gian hiệu lực thì không thể sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ mà không có sự đồng ý của Nhà xuất khẩu và các bên tham gia.

Theo UCP500, nếu một L/C không có ghi là loại gì (tức không ghi hủy ngang, hay không hủy ngang) thì được hiểu là loại L/C không thể hủy ngang.

ÿL/C không hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable letter of credit): Là loại không thể hủy ngang được một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo thanh toán theo như thư tín dụng đó cùng với ngân hàng mở L/C.  Sử dụng loại này cần ghi rỏ tên Ngân hàng xác nhận trong nội dung L/C và Ngân hàng xác nhận phải ký xác nhận trên L/C.

ÿL/C chuyển nhượng (Transferable letter of credit): Là loại không thể hủy ngang, nội dung thư tín dụng này có quy định quyền được chuyển nhượng một lần và mức chuyển nhượng là một phần (hay toàn bộ) số tiền đã ghi trên L/C cho một (hay nhiều người), theo lệnh của người thụ hưởng đầu tiên.  Phí chuyển nhượng sẽ do người thụ hưởng đầu tiên gánh chịu.

ÿL/C không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse letter of credit): Là loại không thể hủy ngang, trong nội dung có quy định khi ngân hàng đã trả tiền cho Nhà xuất khẩu thì không được quyền truy đòi lại dù với bất cứ điều kiện nào.  Trường hợp này trên Hối phiếu đòi tiền của nhà xuất khẩu phải có thể hiện câu "Without recourse to drawer".

ÿL/C tuần hoàn (Revolving letter of credit): Là loại không thể hủy ngang, sau khi L/C sử dụng hết hạn ngạch hoặc hết thời gian hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị lại như cũ và cứ vậy cho đến khi hoàn tất giá trị hợp đồng. Tuỳ theo thỏa thuận sẽ có 02 loại tuần hoàn là : Tuần hoàn tích lũy và Tuần hoàn không tích lũy.

   Có tích lũy: Nếu trong thời gian hiệu lực L/C, Nhà xuất khẩu không giao hàng, thì trong kỳ hiệu lực kế tiếp, giá trị L/C sẽ được cộng dồn tăng lên thêm của cả kỳ trước.

   Không tích lũy: Số dư giá trị L/C của kỳ trước không cộng dồn vào kỳ này.

   Ngoài ra, dựa vào yếu tố thông báo của ngân hàng mở L/C cho Nhà xuất khẩu, loại này có 03 cách tuần hoàn:

     Cách 1-Tự động: Giai đoạn sau tự động có giá trị lại mà không cần Ngân hàng thông báo.

     Cách 2-Không tự động: Phải có Ngân hàng thông báo cho từng giai đoạn.

     Cách 3-Bán tự động: Giai đoạn sau, nếu NH không thông báo, L/C tự động có hiệu lực.

ÿL/C giáp lưng (Back to Back letter of credit): Là loại không thể hủy ngang mà Nhà nhập khẩu mở cho một Nhà xuất khẩu hưởng để thanh toán tiền hàng cho một Tổ chức xuất khẩu khác.  L/C ban đầu là L/C gốc, L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng.  Thực hiện loại này cần chú ý rằng 02 L/C phải được thông qua một ngân hàng phục vụ Tổ chức xuất khẩu, L/c gốc phải có ngày mở trước ngày của L/C giáp lưng và số tiền trên L/C giáp lưng phải nhỏ hơn số tiền trên L/C gốc.  Phần chênh lệch do Nhà xuất khẩu trung gian hưởng.

ÿL/C đối ứng: Là loại không thể hủy ngang mà được quy định rằng nó chỉ có giá trị hiệu lực khi có một L/C khác đối ứng với nó được mở.  Có nghĩa khi Nhà xuất khẩu nhận được L/C do Nhà nhập khẩu mở, thì Nhà xuất khẩu phải mở lại 01 L/C tương ứng thì nó mới có giá trị.  Loại này thường được sử dụng cho các bên xuất nhập khẩu có quan hệ thanh toán trên cơ sở mua bán hàng đổi hàng, hoặc gia công may mặc, gia công đổi nguyên liệu lấy thành phẩm. (Chú ý:  Trong gia công, khi Nhập nguyên liệu dùng L/C trả chậm.  Xuất thành phẩm dùng L/C trả ngay).

ÿL/C dự phòng (Stand By letter of credit): Là loại mà Nhà nhập khẩu yêu cầu Nhà xuất khẩu phải mở một L/C dự phòng, để dự phòng trường hợp Nhà xuất khẩu không giao hàng, thì Ngân hàng mở L/C dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho Nhà nhập khẩu.

ÿL/C thanh toán dần (Deferred payment letter of credit): Là loại không thể hủy ngang được Ngân hàng mở L/C cam kết với Nhà xuất khẩu thanh toán dần số tiền ghi trong L/C trong thời gian hiệu lực quy định.

ÿL/C với điều khoản đỏ (Red Clause letter of credit): Là loại L/C mà trong đó có điều khoản nào đó đặc biệt.  Thường là Nhà nhập khẩu cho phép Nhà xuất khẩu ứng trước một khoản tiền nhất định trước khi xuất trình bộ chứng từ hàng hóa.

 

7. Nhận xét

Trong điều kiện mua bán quốc tế như hiện nay, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có ưu điểm là: Quyền lợi của các bên tham gia mua bán (bao gồm Nhà xuất khẩu và Nhà nhập khẩu) đều được đảm bảo như nhau, thông qua tổ chức thứ ba là Ngân hàng.  Trong phương thức này, phía có trách nhiệm cao nhất là Ngân hàng mở thư tín dụng.  Họ sẽ quyết định thanh toán hoặc không thanh toán cho việc giao dịch mua bán giữa hai bên.

Tuy nhiên, phương thức này có nhược điểm là:  Thời gian thanh toán chậm (do phải kiểm soát chặt chẻ chứng từ) và chi phí cao (do vận chuyển chứng từ nhiều lần, từ nơi này đến nơi khác, giữa các bên).

 

----oOo----

 

Về đầu trang

 

  01/06/2003-12/11/2004 Design by VoHungDzung (Cantho, Vietnam)

 
  Văn, thơ    Truyện đọc    Tin học    Kế toán     Pháp luật        
  Về trang ngoại thương  E-mail  Designer