topmargin="0" leftmargin="0" background="../images/Jpeg/content_backgound.jpg">
 
 
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
   
 
 

----ooOoo----

CÁC PHƯƠNG TIỆN

THANH TOÁN QUỐC TẾ

----ooOoo----

 

1/- HỐI PHIẾU: (Bill of Exchange)

 Để thống nhất trong việc lưu thông hối phiếu từ trước tới nay các nước tư bản đã ban hành các luật về hối phiếu như:

-  Luật hối phiếu Anh ban hành năm 1882: "Bill of Exchange Act of 1882" (BEA)

-  Luật thương mại thống nhất Mỹ, 1962 "Uniform Commercial Codes of 1962" (UCC)

- Công ước Geneva ký kết giữa các nước 1930, luật thống nhất về hối phiếu "Uniform Law for Bill of Exchange" (ULB).

   Việt Nam đang sử dụng áp dụng công ước này.

 

a)- Khái niệm:  Hối phiếu là một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do Nhà xuất khẩu, người bán, người cung cấp dịch vụ ký phát để đòi tiền Nhà nhập khẩu, người mua, người nhận cung cấp dịch vụ và yêu cầu những người này phải trả một số tiền nhất định, tại một địa điểm nhất định, trong một thời gian nhất định cho Người thụ hưởng có quy định trong hối phiếu, hoặc theo lệnh của người thụ hưởng này trả cho người khác.

 

b)- Các thành phần có liên quan:

- Người ký phát hối phiếu: Nhà xuất khẩu, người bán, người cung cấp dịch vụ.

- Người chịu trách nhiệm thanh toán hối phiếu: (Theo thanh toán tín dụng chứng từ là Ngân hàng mở L/C, theo phương thức nhờ thu là Nhà nhập khẩu, người mua, người nhận cung cấp dịch vụ).

- Người hưởng lợi: Nhà xuất khẩu, người bán, người cung cấp dịch vụ (hay một người khác được chỉ định)

 

c)- Đặc điểm của hối phiếu:

- Tính trừu tượng:  Trên tờ hối phiếu có ghi số tiền trả cho ai, thời gian, địa điểm phát sinh hối phiếu mà không ghi rõ nguyên nhân phát sinh hối phiếu, tức nội dung kinh tế của hối phiếu.

- Tính bắt buộc:  Người trả tiền bắt buộc phải trả tiền hối phiếu mà không được từ chối vì bất cứ lý do gì.  Tính bắt buộc của hối phiếu được pháp luật bảo đảm.

- Tính lưu thông:  Hối phiếu có thể chuyển nhượng từ tay người này sang tay người khác thông qua thủ tục ký hậu hối phiếu trong thời gian hiệu lực của hối phiếu.

 

d)- Hình thức của hối phiếu:

- Hình mẫu của hối phiếu dài hay ngắn không hề ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của nó.  Hối phiếu được viết tay hay in sẳn theo mẫu đều có giá trị, thông thường người ta sử dụng hối phiếu in sẳn có các khoảng trống để cho người ký phát điền vào những nội dung cần thiết.  Tuy nhiên, khi điền vào, ngôn ngữ tạo lập hối phiếu phải bằng một thứ tiếng nhất định và thống nhất với ngôn ngữ đã in sẳn trên mẫu.  Thông thường là bằng tiếng Anh.

- Không được viết lên hối phiếu bằng bút chì, mực đỏ hay mực dễ phai.

- Hối phiếu được lập thành 01 hay nhiều bản.  Thông thường, người ta lập thành hai bản.  Bản thứ nhất có ký hiệu là (1), Bản thứ nhì có ký hiệu là (2).  Hai bản này đều có giá trị ngang nhau, nhưng chỉ có một bản có giá trị thanh toán.  Đối với những quốc gia có tình hình chính trị bất ổn, hối phiếu có thể được lập thành ba hay bốn bản.  Những bản này cũng có giá trị ngang nhau.  Tuy nhiên, chỉ có bản đến trước là có giá trị thanh toán và những bản còn lại sẽ mất giá trị hiệu lực thanh toán.  Hối phiếu không có bản chính hay bản phụ.

 

e)- Nội dung hối phiếu:

Theo công ước Geneva 1930 (ULB), một hối phiếu được coi là có giá trị khi có những nội dung sau:

üTiêu đề hối phiếu:  Hối phiếu phải ghi tiêu đề là Bill of Exchange hoặc Exchange, hay Drafts.

üĐịa điểm và ngày ký phát hối phiếu:  Thông thường, địa điểm ký phát hối phiếu là nơi ký phát hối phiếu hay một nơi khác vì nơi lập và nơi cư trú của người ký phát hối phiếu có thể khác nhau.  Nếu trên hối phiếu không có ghi nơi ký phát hối phiếu thì địa chỉ bên cạnh tên của người ký phát được coi là địa điểm ký phát hối phiếu và nếu trên hối phiếu không ghi địa chỉ của người ký phát hối phiếu thì hối phiếu đó không có giá trị.

   Ngày ký phát hối phiếu có ý nghĩa quan trọng.  Nó chính là thời điểm xác định việc thành lập hối phiếu, đồng thời cũng là cơ sở xác định kỳ hạn trả tiền của hối phiếu.  Nó cũng là cơ sở để xác định thời hạn tối đa để xuất trình bộ chứng từ, đồng thời là cơ sở kiểm tra tính đồng nhất của bộ chứng từ.  Thông thường, ngày ký phát hối phiếu là ngày xuất trình Bộ chứng từ cho ngân hàng thanh toán.  Trường hợp thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ, thì ngày hối phiếu không được trước ngày giao hàng ghi trên vận đơn (B/L), hóa đơn (Invoice) và cũng không thể sau ngày quá hạn của giá trị của thư tín dụng (L/C).

üKỳ hạn trả tiền:  Là ngày mà người trả tiền có nhiệm vụ trả tiền.  Có hai loại. (thông thường được thể hiện bên cạnh hoặc phía dưới tiêu đề hối phiếu).

+ Trả tiền ngay: Có nghĩa là việc trả tiền được thực hiện ngay khi nhìn thấy hối phiếu, vì vậy trên hối phiếu sẽ thể hiện là: "At sight of this first of Drafts"

+ Trả tiền sau: Việc thực hiện trả tiền được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định

Ví dụ:  - Trả sau X ngày khi nhìn thấy hối phiếu: "At X days after sight"

           - Trả sau X ngày kể từ ngày giao hàng: "At X days after shipment date"

           - Trả sau X ngày kể từ ngày vận đơn: "At X days after bill of lading date"

           - Trả sau X ngày kể từ ngày phát hối phiếu: "At X days after date..."

üNgười thụ hưởng:  Tên họ, địa chỉ của người thụ hưởng phải được ghi rõ ràng, đầy đủ.  Theo luật quản chế ngoại hối ở Việt Nam, người thụ hưởng hối phiếu là các ngân hàng thương mại có chức năng kinh doanh ngoại hối và phải được Ngân hàng nhà nước cấp giấy phép kinh doanh.

üNgười trả tiền hối phiếu:  Tên họ người trả tiền phải được ghi rõ ràng, cụ thể và ghi vào sau chữ "To:".  Nếu sử dụng phương thức thanh toán Nhờ thu, sau "To:" phải ghi tên nhà nhập khẩu.  Còn khi sử dụng phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ thì sau "To:" sẽ ghi tên Ngân hàng mở L/C và đồng thời, cần thể hiện thêm Số L/C, ngày phát hành L/C.

üNgười ký phát hối phiếu:  Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát hối phiếu được ghi bên phải góc dưới của hối phiếu.  Chữ ký của người ký phát hối phiếu phải là chữ ký của người có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý thể hiện ý chí cam kết của họ nên sẽ do chính tay người lập hối phiếu ký.  Yêu cầu phải ký chữ ký thông dụng trong giao dịch.

      

f)- Chấp nhận hối phiếu:  Là một hình thức xác nhận việc bảo đảm thanh toán của người trả tiền đối với hối phiếu khi đến hạn thanh toán.  Sự chấp nhận hối phiếu được thực hiện bằng cách:  Người trả tiền ghi vào mặt trước, góc dưới bên trái của hối phiếu sau dòng "To:" bằng chữ: "Accepted" kế đó là chữ ký của người trả tiền.  Trường hợp, mặt trước đã đầy kín chữ, thì việc thủ tục này sẽ thực hiện ở mặt sau hối phiếu.

 

Chú ý:  Tuy nhiên, người trả tiền vẫn có quyền từ chối, không chấp nhận hối phiếu nếu có nguyên do chính đáng, chẳng hạn như hàng hóa thực nhận không đúng với hợp đồng đã ký kết về số lượng, chất lượng, chủng loại, hoặc Bộ chứng từ thanh toán bất hợp lý, không nhất quán, không phù hợp với những điều khoản, điều kiện đã được quy định.

 

Một hối phiếu có kỳ hạn, nếu đã được ký chấp nhận, sẽ đảm bảo sự tin cậy trong thanh toán và sẽ dễ dàng lưu thông thuận lợi hơn trong việc chuyển nhượng.

 

g)- Ký hậu hối phiếu:(Endorsement) - Chỉ dùng đối với những Hối phiếu có kỳ hạn

     Đây là thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu hối phiếu từ người thụ hưởng này sang người thụ hưởng khác.  Người ký hậu (Endorser) ký chuyển nhượng vào mặt sau của tờ hối phiếu và trao cho Người được chuyển nhượng (Endorsee). Việc ký hậu, thể hiện dưới các hình thức:

üKý hậu để trắng (Blank endorsement):  Không chỉ định cụ thể người thụ hưởng kế tiếp là ai, mà chỉ ký tên mà thôi.  Với hình thức này, người nào cầm được hối phiếu, coi như là người thụ hưởng tiếp theo.

üKý hậu theo lệnh (To order endorsement):  Loại chỉ định một cách suy đoán người thụ hưởng hối phiếu, thường được ghi như sau: "Pay to the order of Mr. A"

üKý hậu hạn chế (Restrictive endorsement):  Còn gọi là ký hậu đích danh.  Trong hình thức ký hậu này, Người chuyển nhượng nêu rõ đích danh người thụ hưởng tiếp theo và chỉ có người đó mà thôi: "Pay to Mr.A only"

üKý hậu miễn truy đòi (Without recourse endorsement):  Loại này, người được chuyển nhượng không được quyền đòi lại tiền của người chuyển nhượng cho mình nếu người trả tiền từ chối trả tiền.

üKý hậu bảo lưu (Conditional endorsement):  Loại ký hậu có điều kiện, đòi hỏi người được chuyển nhượng phải thực hiện một số điều kiện do người chuyển nhượng đề ra.

 

h)- Bảo lãnh hối phiếu: (Guarantee) - Chỉ dùng đối với những Hối phiếu có kỳ hạn

     Đây là sự cam kết của người thứ ba về khả năng thanh toán hối phiếu cho người thụ hưởng khi đến hạn trả tiền.  Thông thường người bảo lãnh hối phiếu là các Ngân hàng.  Việc bảo lãnh sẽ được thực hiện bằng cách ghi vào chữ "bảo lãnh"(good as aval) và ký tên vào cả mặt trước và sau của tờ hối phiếu.

     Tại một số quốc gia, người ta có thể thực hiện việc bảo lãnh bằng một văn bản riêng, gọi là bảo lãnh bí mật.

     Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, hối phiếu có ghi "theo thư tín dụng số: ...., mở ngày:... bởi ngân hàng mở thư tín dụng là:........", về bản chất, đây cũng là một hình thức bảo lãnh hối phiếu.

 

i)- Kháng nghị (protest):  Khi đến hạn mà người trả tiền không trả tiền, Người thụ hưởng có quyền kháng nghị người nầy trước pháp luật.  Giấy kháng nghị phải do người thụ hưởng lập trong thời gian không quá 24 giờ kể từ ngày đến hạn thanh toán hối phiếu.  Trong giấy kháng nghị này ghi rõ nguyên văn nội dung của tờ hối phiếu cùng với việc chấp nhận, ký hậu, bảo lãnh (nếu có) có xác nhận của công chứng viên.

 

j)- Chiết khấu hối phiếu (Discount) - Chỉ dùng đối với những Hối phiếu có kỳ hạn 

    Đây là một hình thức tín dụng dựa trên cơ sở tờ hối phiếu.  Là một nghiệp vụ của Ngân hàng, trong đó, Người thụ hưởng xuất trình hối phiếu chưa đến hạn trả tiền cho Ngân hàng, để nhận lại ngay một số tiền thấp hơn số tiền đã ghi trên hối phiếu.  Trường hợp cả hai bên đều đồng ý, Người thụ hưởng sẽ thực hiện nghiệp vụ ký hậu để chuyển nhượng hối phiếu đó cho ngân hàng.  Chênh lệch giữa số tiền ghi trên hối phiếu và tiền Ngân hàng chi ra, là lợi tức chiết khấu của Ngân hàng.  Người thụ hưởng cũng có thể dùng hối phiếu để thế chấp vay vốn ở Ngân hàng.

 

2/- SÉC: (Check/Cheque)

     Là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của Người chủ tài khoản tiền gửi, ra lệnh cho Ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người cầm séc, người có tên trong séc hoặc trả theo lệnh của người ấy (tức người có tên trên tờ séc).  Séc có thể chuyển nhượng được giống như cách chuyển nhượng của hối phiếu có kỳ hạn.

Các loại séc:

+ Séc tiền mặt:  Dùng để rút tiền mặt tại Ngân hàng.

+ Séc chuyển khoản:  Chỉ thanh toán bằng chuyển khoản.

+ Séc xác nhận:  Loại séc có sự bảo đảm chi trả của ngân hàng, còn gọi là séc bảo chi.

+ Séc du lịch: Được trả tiền tại bất kỳ ngân hàng chi nhánh hay ngân hàng đại lý nào của Ngân hàng phát hành séc kể cả ở trong hay ngoài nước.  Hiệu lực của nó là vô hạn nên thuận tiện cho du lịch.

 

3/- THẺ NHỰA:

a)- Thẻ rút tiền (ATM - Automatic Teller Machine):  Một loại thẻ rút tiền có giới hạn ở các máy rút tiền tự động tại các nơi công cộng.

b)- Thẻ tín dụng (Credit Card):  Người sở hữu có thể sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc chi nhánh và các đại lý thanh toán thẻ tín dụng.  Thẻ này có đặc điểm là Ngân hàng chỉ ghi nợ vào tài khoản người chủ thẻ.  Cuối tháng, sẽ gửi đến chủ thẻ một bảng kê hóa đơn để yêu cầu chủ thẻ thanh toán.

 

----oOo----

 

Về đầu trang

 

  01/06/2003-12/11/2004 Design by VoHungDzung (Cantho, Vietnam)

 
  Văn, thơ    Truyện đọc    Tin học    Kế toán     Pháp luật        
  Về trang ngoại thương  E-mail  Designer